TÔ LÂM VÀ ẢO VỌNG ĐIÊN RỒ VỀ “PHƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”

  • Đặng Đình Mạnh

     

    Trong dòng chảy lịch sử nhân loại, ý tưởng về một xã hội công bằng, nơi mọi người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu luôn là một đích đến đầy hấp dẫn, chẳng vì thế, mà nó đã là mê hoặc, quyến rũ biết bao nhiêu trí thức Việt Nam dấn thân theo chủ nghĩa Cộng Sản từ giữa những năm của thập kỷ bốn mươi, đến tận năm 1975, để đổi lấy kết cục ê chề, bẽ bàng khi nhận chân ra sự thật.

     

    Cho đến nay, sau hơn một trăm năm thực hiện xây dựng Chủ nghĩa Xã hội (CNXH), bắt đầu từ khi ra đời nhà nước Liên Xô cho đến nay, thế giới vẫn chưa từng chứng kiến một quốc gia nào tuyên bố đã xây dựng thành công Chủ nghĩa Xã hội theo đúng nghĩa hoàn chỉnh của nó. Mà trái lại, thế giới chứng kiến sự từ bỏ CNXH của hàng loạt quốc gia, bên cạnh sự sụp đổ của Liên Xô, đến mức, chỉ teo tóp chỉ còn năm quốc gia trên thế giới gồm Trung Cộng, Triều Tiên, Lào, Cuba và Việt Nam.

     

    Trong năm quốc gia vừa nêu tên, duy nhất chỉ có một quốc gia phát triển vượt bậc đó là Trung Cộng. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng sư phát triển của Trung Cộng không hề mang dáng dấp gì của CNXH cả, và càng không nhờ vả gì vào mớ lý thuyết của chủ nghĩa ấy, nếu không muốn nói rằng nguồn gốc chúng đến từ những quốc gia tư bản, vốn là kẻ thù “không đội trời chung” của chủ nghĩa Cộng Sản.

     

    Gần đây nhất, Triều Tiên, mặc dù vẫn duy trì chính sách độc tài, gia đình trị, thế nhưng, họ cũng minh thị loại bỏ hẳn khái niệm CNXH ra khỏi bản hiến pháp của mình.

     

    Không chỉ Triều Tiên, mà cả Cuba, dưới sức ép nhiều mặt của Hoa Kỳ cũng đã phải chấp nhận “đổi màu” về chính trị để xa rời dần cái lý thuyết phá sản của chủ nghĩa Cộng Sản.

     

    Tại Việt Nam, khi còn sinh tiền, người tiền nhiệm của Tô Lâm giữ chức vụ Tổng Bí thư là Nguyễn Phú Trọng, một tay lý luận Cộng Sản kiên định, cũng từng thẳng thắn nhìn nhận: “Xây dựng CNXH là một sự nghiệp lâu dài, khó khăn, phức tạp… Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?”. 

     

    Cho thấy bức tranh đầy ảm đạm của CNXH từ lịch sử cho đến nay, từ lý luận cho đến thực tiễn, Thế nhưng, trong bối cảnh đó, Tô Lâm vẫn một mực trung thành với chủ nghĩa Cộng Sản, mặc cho hậu quả như thế nào đối với đất nước. Cho thấy sự phản động cực kỳ của y đối với xứ sở, dân tộc Việt Nam.

     

    Không chỉ thế, mới đây, Tô Lâm còn đưa ra chủ trương xây dựng thí điểm “Phường Xã hội Chủ nghĩa” tại Hà Nội. Điều này đã đặt ra những câu hỏi lớn về tính khả thi, sự kế thừa lý luận và khoảng cách giữa những ảo vọng với thực tế.

     

    Để hiểu rõ khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế, cần có cái nhìn đối chiếu giữa chúng, những gì Marx, Engels và Lenin từng hình dung, và những gì một “phường XHCN” có thể trở thành trong điều kiện cụ thể của Hà Nội.

     

    Từ lý thuyết đến thực tế khả dĩ

     

    Trong lý thuyết kinh điển, chủ nghĩa xã hội không phải là một mô hình hành chính có thể “thí điểm” ở cấp phường, mà là kết quả tất yếu của sự phát triển cao của lực lượng sản xuất tại một quốc gia. Về kinh tế, đó là sự xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, thay thế bằng công hữu, với nền kinh tế vận hành theo kế hoạch hóa nhằm phục vụ nhu cầu con người thay vì lợi nhuận. 

     

    Nhưng trong thực tế Hà Nội hôm nay, sau khi chính chế độ ban hành các chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân, một “phường XHCN” khó có thể đi ngược lại nền tảng đó; nhiều khả năng nó chỉ có thể biến tướng thành việc khuyến khích kinh tế tập thể hoặc hợp tác xã kiểu mới — tức là một lớp sơn “xã hội chủ nghĩa” phủ lên một cấu trúc kinh tế vốn đã mang đậm logic thị trường hiện có của Hà Nội.

     

    Điều này chưa tính đến phản ứng của người dân nếu chế độ của Tô Lâm lăm le công hữu hóa tư liệu sản xuất của họ.

     

    Về phương diện nhà nước và pháp luật, Engels và Lenin từng “vẽ” ra rằng khi xã hội không còn đối kháng giai cấp, nhà nước sẽ “tự tiêu vong”, và pháp luật với tư cách là công cụ cưỡng chế sẽ nhường chỗ cho các hình thức tự quản cộng đồng. 

     

    Tuy nhiên, thực tế hiện nay lại đang đi theo chiều ngược lại. Bộ máy kiểm soát xã hội ngày càng được củng cố, với lực lượng an ninh dày đặc và cơ chế quản trị ngày càng tập trung. Trong bối cảnh đó, “phường XHCN” khó có thể là một không gian tự quản theo nghĩa lý tưởng, mà nhiều khả năng chỉ trở thành một đơn vị hành chính được số hóa tốt hơn, quản lý hiệu quả hơn — tức là hiện đại hóa công cụ quản lý, chứ không phải giảm thiểu quyền lực quản lý. 

     

    Và trớ trêu thay, ngay cả mục tiêu “hành chính phục vụ” này cũng vấp phải một thực tế khó phủ nhận, khi một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức trong hệ thống công quyền vẫn vận hành theo logic “đầu tư – thu hồi”. Vì lẽ, chiếc ghế công vụ không phải là trách nhiệm phục vụ, mà là tài sản mà họ đã bỏ tiền ra mua, nay cần hoàn vốn và thu lời.

     

    Về phương diện xã hội và giáo dục, lý thuyết Marxist hướng đến một xã hội không giai cấp, mọi sự phân biệt giữa lao động trí óc và chân tay bị xóa bỏ, và giáo dục trở thành quyền phổ quát, miễn phí, gắn liền với sản xuất. 

     

    Nhưng thực tế Việt Nam hiện nay lại cho thấy một cấu trúc xã hội phân hóa rõ rệt, với khoảng cách lớn về thu nhập, cơ hội và quyền lực giữa nhóm cán bộ đảng viên trong chế độ và phần còn lại của xã hội. Trong bối cảnh đó, “phường XHCN” do Tô Lâm cho làm thí điểm liệu có thể dám xóa nhòa sự phân hóa ấy để bảo đảm tiệm cận với lý tưởng về một xã hội bình đẳng toàn diện.

     

    Nếu dám, số cán bộ đảng viên đang ăn trên, ngồi chốc chắc sẽ khoanh tay thúc thủ để có một xã hội bình đẳng chăng?

     

    Tương tự, trong lĩnh vực y tế, lý thuyết xã hội chủ nghĩa coi chăm sóc sức khỏe là quyền mặc nhiên, không mang tính thương mại. Nhưng trong thực tế, một mô hình “phường XHCN” khả dĩ nhất có lẽ chỉ dừng lại ở việc nâng cao năng lực trạm y tế cơ sở, cung cấp dịch vụ chăm sóc ban đầu với chi phí thấp hoặc miễn phí tượng trưng. Đây là một bước cải thiện đáng kể nếu thực hiện được, nhưng vẫn còn cách rất xa so với một hệ thống y tế phi thương mại hóa hoàn toàn như trong lý thuyết Marxist .

     

    Tóm lại, khi đặt cạnh nhau giữa lý thuyết và thực tế, “Phường Xã hội Chủ nghĩa” hiện ra rõ mồn một như một nghịch lý, rằng một khái niệm mang tính lý tưởng vĩ mô lại được thu nhỏ thành một mô hình hành chính vi mô, trong khi những điều kiện vật chất và thể chế cần thiết để hiện thực hóa lý tưởng đó lại chưa từng tồn tại hoặc có thể sẽ không bao giờ tồn tại. 

     

    Chưa kể rằng, khi so sánh chúng, chúng ta đã thấy ngay một khoảng cách đáng kể. Lý thuyết của Marx-Lenin đòi hỏi một sự thay đổi tận gốc rễ về quan hệ sản xuất (xóa tư hữu), trong khi mô hình tại Hà Nội hiện nay vẫn phải vận hành nền kinh tế tư nhân và thậm chí, chế độ dưới thời Tô Lâm làm Tổng Bí thư đã từng ban hành Nghị quyết Trung ương số 68/2005 nâng cao vai trò của nền kinh tế tư nhân và xem đây như một trong bốn cột trụ của cải cách.

     

    Thế giới đã tồn tại như thế nào khi chưa từng có “Phường XHCN”?

     

    Trong số người ngưỡng mộ Tô Lâm như một “minh quân”, không rõ có ai đã từng thắc mắc rằng: Thế giới đã tồn tại như thế nào khi chưa từng có “Phường XHCN” không?

     

    Thật ra, ngoại trừ Việt Nam như một ốc đảo độc tài trong sa mạc dân chủ, ôm lấy mớ lý thuyết Marx-Lenin như châu báu, trong khi đó, thế giới đã vứt bỏ mớ lý thuyết của Marx-Lenin vào thùng rác lịch sử từ lâu. Các quốc gia Cộng Sản Đông Âu, sau khi rời bỏ Cộng Sản từ vài ba thập niên qua, họ đều đã trở thành các quốc gia phát triển vượt bậc về mọi phương diện.

     

    Theo đó, thế giới văn minh bên ngoài theo đuổi theo các giá trị phổ quát thể hiện qua các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hiệp Quốc, hay mô hình quốc gia phúc lợi ở Bắc Âu bao gồm: Tự do, Công bằng, Bền vững và Quyền con người. Họ đều phát triển mà không cần đến “cái lồng kính” “Phường XHCN” đầy ảo vọng nhưng điên rồ mà Tô Lâm định bày vẽ để du khách tham quan như tham quan vườn thú.

     

    Tóm lại, chủ trương xây dựng thí điểm “Phường Xã hội Chủ nghĩa” là biểu hiện rõ rệt của sự bối rối về lý luận lẫn thực tiễn. Nếu còn sống, có lẽ chính Marx và Lenin – những người đặt nền móng cho mới lý thuyết này – sẽ không chỉ ngạc nhiên mà còn phẫn nộ. Bởi điều họ hình dung là một trật tự xã hội mang tính toàn diện, được xây dựng trên nền tảng phát triển cao của lực lượng sản xuất, nay lại bị thu nhỏ thành một “showroom trình diễn”. Lý tưởng bị cắt khúc, dàn dựng thành kịch bản cho vừa vặn với một mô hình thí điểm cấp phường tại Hà Nội.

     

    Nói thẳng thắn, đây không còn là sự vận dụng lý luận, mà là sự bẻ cong lý luận nhằm phục vụ chính trị. Khi một học thuyết mang tham vọng giải thích và cải biến toàn bộ xã hội bị giản lược thành một mô hình hành chính cục bộ, thì bản thân lý luận ấy đã trở nên dị dạng.

     

    Cần nhìn nhận rằng một phường không thể tạo ra một chế độ, cũng như một mô hình trình diễn không thể thay thế cho những điều kiện lịch sử cần thiết. Chủ nghĩa xã hội, ngay cả trong lý thuyết, chưa bao giờ được thiết kế như những “ốc đảo” thí điểm nằm trong một nền kinh tế thị trường hiện có như Hà Nội. Nó đòi hỏi một nền tảng vật chất đủ dồi dào để nâng đỡ toàn bộ xã hội. Ngược lại, những mô hình thí điểm được dựng lên trong bối cảnh hiện nay chỉ có nguy cơ trở thành những “showroom chính sách” để trưng bày nhiều hơn là thực chất được vận hành.

     

    Xứ sở này thật vô phúc.

    Viết từ Hoa Thịnh Đốn, ngày 11 Tháng Tư 2026